Theo Đài chúng tôi, tính đến tối ngày 30-12-2004, trận động đất lớn và sóng thần ở vùng biển Ấn độ dương đã làm hơn 110 ngàn người chết, con số thương vong vẫn có thể tiếp tục tăng. Với việc công tác cứu hộ không ngừng được mở rộng, con người cũng bắt đầu suy nghĩ lại về thiệt hại lớn lao do tai hoạ này gây ra. Có thể nói tai hoạ sóng thần lần này đã làm nổi cộm năm thiếu sót lớn của con người trong việc phòng chống và cứu trợ thiên tai.
Thứ nhất, thiếu cơ chế cảnh báo sóng thần có hiệu quả. Năm 1964, sau khi A-ra-gát Mỹ xẩy ra động đất mạnh 9,2 độ rít-te và gây ra sóng thần lớn, thì hệ thống giám sát và đo lường thuỷ triều và cảnh báo sóng thần vùng duyên hải Thái bình dương đã được thành lập. Nhưng hệ thống cảnh báo sóng thần ở Ấn Độ dương thì chưa được thiết lập, dẫn đến tấn bi kịch do sóng thần gây ra lại tái diễn sau 40 năm.
Thứ hai, thiếu cơ chế ứng cứu thống nhất và phối hợp sau khi xẩy ra thiên tai. Khi tai hoạ sắp ập xuống và không còn cách nào chống đỡ, việc khởi động cơ chế ứng cứu tích cực và có hiệu quả sau khi xẩy ra thiên tai cũng có thể giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra. Nhưng qua tình hình xẩy ra sóng thần lần này người ta thấy, các nước liên quan ứng đối thiên tai theo cách của mình, thiếu hẳn sự thống nhất và phối hợp.
Thứ ba, Ý thức an toàn yếu, dự đoán mức độ nghiêm trọng của thiệt hại không đầy đủ. Theo báo chí Thái Lan, chuyên gia khí hậu của Thái Lan đã có dự cảm khi xẩy ra động đất, nhưng chưa ý thức được hậu quả có tính chất tai hoạ do động đất gây ra. Thậm chí có tin nói, các chuyên gia lo lắng cánh báo sóng thần sẽ ảnh hưởng đến tình hình thu nhập của ngành du lịch nên đã giấu giếm không thông báo, mà chỉ mang tâm lý cầu may, cầu mong tránh được sóng thần. Báo chí Ấn độ cho biết, trước khi sóng thần lớn do động đất ở Ấn độ dương gây ra ập tới, phía quân đội Ấn Độ đã nhận được cảnh báo sóng thần, nhưng do tác phong quan liêu lan tràn làm cho ngành hữu quan lỡ mất thời cơ tốt nhất để áp dụng biện pháp phòng chống, cuối cùng dẫn đến tai hoạ.
Thứ tư, coi trọng lợi ích kinh tế trước mắt, bất chấp sự phá hoại môi trường sinh thái. Đợt sóng thần này đổ bộ với tốc độ kinh người, làm cho mọi người không kịp phản ứng. Một số chuyên gia môi trường cho rằng, tại các nước bị thiên tai, vùng ven biển trước kia có rừng đước, một bình phong thiên nhiên có thể cản trở tốc độ và sức mạnh tiến bước của sóng thần, nhưng do con người chạy theo lợi ích trước mặt một cách thiển cận, rừng đước đã bị phá huỷ hoàn toàn. Bên cạnh đó, việc xây dựng tràn lan cơ sở giải trí du lịch ven biển cũng để lại lỗ hổng cho sóng thần gây thiệt hại lớn về người và của cho con người.
Thứ năm, trốn tránh trách nhiệm và nghĩa vụ, lơ là những vấn đề con người đang phải đối mặt. Khi mới xẩy ra tai hoạ, một số ngước không bị thiên tai chưa ý thức đầy đủ tính nghiêm trọng của thiên tai, tuy công dân nước mình cũng bị hại, nhưng vẫn có ý thờ ơ. Tổng thống Mỹ Bu-sơ sau khi được tin xẩy ra thiên tai vẫn đi nghỉ, bị công dân nước này phê bình nghiêm khắc. Mức cứu trợ đợt đầu của các nước phát triển quá nho,̉ cũng bị quan chức Liên hợp quốc phê bình.
Điều đáng mừng là cộng đồng quốc tế hiện nay đã nhận rõ sự tàn khốc của thiên tai này, và đang tiến hành hoạt động chống thiên tai và cứu trợ rầm rộ chưa từng thấy. Tuy nhiên, chỉ dừng ở việc tham gia cứu trợ chưa đủ, làm thế nào hết đau rồi nghĩ về đau, làm thế nào tránh tấn bi kịch tái diễn, đó cũng là vấn đề con người cần phải suy nghĩ và có những biện pháp thích đáng.
|