|
Nhảy cầu được khởi nguồn trong quá trình phát triển của môn bơi lội. Trong thế kỷ thứ 5, chiếc lục bình gốm của Cổ Hy Lạp đã có hình vẽ của lũ trẻ trai trúc đầu nhảy xuống nước. Thế kỷ 17, tại các bến cảng ven biển của Bán đảo Xcăng-đi-na-vơ, Địa Trung Hải và Hồng Hải, đã thịnh hành hoạt động nhảy từ trên bờ hay từ cột buồm xuống nước. Môn nhảy cầu hiện đại được bắt đầu từ thế kỷ 20, tại Thế Vận Hội khóa 2 năm 1900, vận động viên Thụy Điển đã biểu diễn môn nhảy cầu và môn này chính thức trở thành môn thi đấu tại Thế Vận Hội năm 1904. Theo hướng và kết cấu của động tác nhảy, có thể chia thành 5 nhóm gồm: hướng trước, hướng sau, hướng trong, lộn người và chuyển thân. Mỗi nhóm đều có động tác quy định và động tác tự chọn, mỗi động tác lại có hệ số độ khó khác nhau. Theo tư thế nhảy cầu trên không, lại chia thành 4 loại: A (thẳng người), B (gập người), C (ôm gối) và D (lộn vòng kiêm chuyển thân). Chia môn nhảy cầu cố định (tức cầu cứng) và môn nhảy cầu bật (tức cầu mềm).

Môn nhảy cầu cố định được triển khai trên mặt cứng không có sức bật. Độ cao của cầu nhảy cách mặt nước gồm 3 loại là 5 mét, 7,5 mét và 10 mét, Thế Vận Hội, Giải Vô địch Thế giới và Giải cúp Thế giới chỉ thi nhảy cầu cố định 10 mét. Theo hướng nhảy và kết cấu động tác, môn nhảy cầu cố định chia làm 6 nhóm gồm: hướng trước, hướng sau, hướng trong, lộn người, chuyển thân và giồng chuối. Trong thi đấu, tuyển thủ nam phải hoàn thành 4 động tác tự chọn có hạn chế hệ số độ khó và 6 động tác tự chọn không hạn chế hệ số độ khó; tuyển thủ nữ phải hoàn thành 4 động tác tự chọn có hạn chế hệ số độ khó và 4 động tác tự chọn không hạn chế hệ số độ khó. Số điểm cao nhất của mỗi động tác là 10 điểm, quyết định ngôi thứ là số điểm chung sau khi hoàn thành toàn bộ động tác, người có số điểm chung cao nhất sẽ xếp đầu bảng. Môn nhảy cầu cố định nam và nữ lần lượt được coi là môn thi tại Thế Vận Hội năm 1904 và năm 1912.
Môn nhảy cầu bật được triển khai trên tấm ván một đầu bị cố định và một đầu có sức bật, độ cao của tấm ván bật cách mặt nước gồm 2 loại là 1 mét và 3 mét. Theo hướng nhảy và kết cấu động tác, môn cầu bật chia làm 5 nhóm gồm: hướng trước, hướng sau, hướng trong, lật người và chuyển thân. Khi thi đấu, tuyển thủ nam phải hoàn thành 5 động tác tự chọn có hạn chế hệ số độ khó và 6 động tác tự chọn không hạn chế hệ số độ khó, tuyển thủ nữ phải hoàn thành 5 động tác tự chọn có hạn chế hệ số độ khó và 5 động tác tự chọn không hạn chế hệ số độ khó. Số điểm cao nhất của mỗi động tác là 10 điểm, quyết định ngôi thứ là số điểm chung sau khi hoàn thành toàn bộ động tác, người có số điểm chung cao nhất sẽ xếp đầu bảng. Môn nhảy cầu bật nam và nữ lần lượt được coi là môn thi của Thế Vận Hội năm 1908 và năm 1920.
Các khóa Thế Vận Hội thường thi 4 môn cá nhân: cầu bật 3 mét nam, cầu cố định 10 mét nam, cầu bật 3 mét nữ và cầu cố định 10 mét nữ; cùng với 4 môn đôi nam và đôi nữ của cầu bật và cầu cố định. Mỗi Hiệp hội nhiều nhất có thể cử 2 tuyển thủ tham gia 1 môn cá nhân. Hội Liên hiệp Bơi lội Quốc tế công bố tiêu chuẩn ghi tên hạng A và hạng B các môn cá nhân cũng như kỳ hạn đạt tiêu chuẩn. Quy định: nếu mỗi Hiệp hội chỉ có 1 tuyển thủ tham gia 1 môn cá nhân, thì tuyển thủ này phải đạt tiêu chuẩn hạng B, nếu có 2 tuyển thu tham gia, thì 2 tuyển thủ này đều phải đạt tiêu chuẩn hạng A.
|